Hỗ trợ trực tuyến

Mr. Đức 
minhduckt7

Sơ đồ tuyến điểm tham quan bán đảo Sơn Trà

Lượt truy cập
Bộ đếm

  

Bảo vệ và khai thác tài nguyên du lịch đô thị ven biển

         (cập nhật: 20/08/2012 17:09:28, đã xem: 5322)

Tài nguyên du lịch bao gồm cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người có giá trị và được sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch (Dự thảo luật du lịch 2005).

bai bien sam son
Bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hoá) - Ảnh Đình Lạc

Vùng ven biển Việt Nam gồm 29 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với diện tích tự nhiên là 140.413 km2, dân số 41,5 triệu bằng 42,5% diện tích tự nhiên và 53,4% dân số cả nước. Tại đây hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi với các nguồn tài nguyên đa dạng và phong phú thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội đặc biệt là du lịch. Dọc theo chiều dài đất nước 3.260km, địa hình đã tạo nên nhiều cảnh quan tự nhiên đẹp, hấp dẫn (từ cảnh quan bờ biển Quảng Ninh, đèo Ngang, đèo Hải Vân, đèo Cả, đến khu vực bờ biển Đà Nẵng, các tỉnh Khánh Hòa Nha Trang, Ninh Thuận, Bình Thuận, v.v.. với nhiều bãi biển có giá trị để phát triển các khu du lịch biển quốc gia và quốc tế. Ở vùng nước ven bờ, tập trung gần 2.800 hòn đảo, có nhiều đảo có giá trị du lịch, trong đó đặc biệt là vịnh Hạ Long có địa hình karst ngập nước với cảnh quan biển đảo đặc biệt đã được UNESCO hai lần công nhận là di sản thiên nhiên của thế giới. Vùng ven biển Việt Nam còn là nơi có nhiều hệ sinh thái điển hình, với tính đa dạng cao, có giá trị khoa học, tập trung chủ yếu ở hệ thống 13/28 vườn quốc gia; 22/55 khu bảo tồn thiên nhiên, trong đó có 02 khu bảo tồn biển là Hòn Mun (Khánh Hòa) và Cu Lao Chàm (Quảng Nam), 17/34 khu rừng văn hóa lịch sử và môi trường ở ven biển và hải đảo ven bờ, trong đó tiêu biểu là vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới; rừng quốc gia Cát Bà, rừng ngập mặn Cần Giờ là các khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Bên cạnh những tài nguyên tự nhiên, các yếu tố nhân văn giàu bản sắc văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc như: Kinh, Hoa, Khơ Me, Chăm v.v.cũng tập trung ở vùng ven biển, có ý nghĩa to lớn đối với phát triển du lịch biển. Hiện nay có tới 915/2509 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng quốc gia nằm ở vùng ven biển, đặc biệt trong số đó có 4 di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận.

Nhiều địa bàn ven biển và hải đảo, trong đó giải ven biển Huế - Đà Nẵng – Quảng Nam là khu vực tập trung mật độ cao các tài nguyên tự nhiên và nhân văn có giá trị tạo sức hấp dẫn lớn về du lịch, có khả năng liên kết tạo ra những sản phẩm du lịch biển có sức cạnh tranh để hình thành các điểm, cụm, tuyến, trung tâm và các khu du lịch biển tầm cỡ khu vực và quốc tế, làm đòn bẩy cho phát triển du lịch biển nói riêng và du lịch cả nước nói chung.

tro choi dan gian tren bien
Chơi kéo co trên biển - Ảnh Đình Lạc

Khu vực ven biển có vị trí đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của cả nước. Để triển khai Nghị quyết 03/NQ-TW của Bộ Chính trị về nhiệm vụ phát triển kinh tế biển, Thủ tướng Chính phủ đã có Chỉ thị 339/TTg chỉ đạo các ngành, các cấp thực hiện thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội nói chung trong đó có du lịch. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam, Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2010 đã xác định 5 trong 7 khu trọng điểm phát triển du lịch thuộc khu vực ven biển; chỉnh trang nâng cấp 9/11 đô thị du lịch từ Hạ Long đến thị xã Hà Tiên; 12 tổng số 25 khu du lịch quốc gia được ưu tiên phát triển trong giai đoạn 2006-2010 là các khu du lịch biển.

Căn cứ Chiến lược và Quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các địa phương trên địa bàn cả nước, bao gồm khu vực ven biển hệ thống tài nguyên du lịch đã được khai thác phục vụ phát triển du lịch; quy hoạch tổng thể phát triển du lịch, quy hoạch chi tiết các khu du lịch trên địa bàn đã được tích cực triển khai lập và thực hiện.

Các khu du lịch đã được hình thành và phát triển gắn với hệ thống đô thị, khu dân cư nông thôn khu vực ven biển. Trong tổng số 43 đô thị ven biển của cả nước, nhiều đô thị có tài nguyên cảnh quan du lịch hấp dẫn như Hạ Long, Đồ Sơn, Cửa Lò, Hội An, Đà Nẵng, Nha Trang,…đã được bảo vệ và khai thác có hiệu quả phục vụ phát triển du lịch, đưa hoạt động du lịch, nghỉ mát trở thành động lực quan trọng phát triển đô thị. Một số đô thị trở thành trung tâm chuyên ngành của vùng lãnh thổ trong đó các đô thị đặc biệt và đô thị loại 1 đều là các trung tâm vùng du lịch. Tại khu vực ven biển miền Trung, thành phố Đà Nẵng được phát triển gắn với các khu ven biển phía Bắc và cụm đô thị Quảng Nam như Tam Kỳ, Điện Nam – Điện Ngọc, nhờ khai thác các thế mạnh kinh tế về cảng, du lịch biển và công nghiệp. Nhờ đó khu vực ven biển hàng năm thu hút khoảng 60-80% lượng khách du lịch của cả nước, từng bước đưa nước ta trở thành trung tâm du lịch biển có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế.

cac hoa hau the gioi dang ngoi thung
Các hoa hậu thế giới đang thử ngồi thúng - Ảnh Đình Lạc

Tuy nhiên quá trình phát triển kinh tế xã hội, chủ yếu là phát triển đô thị, khu dân cư trong thời gian qua tại một số địa phương đã làm nảy sinh một số tồn tại, đặc biệt trong công tác quản lý nguồn tài nguyên du lịch. Môi trường, cảnh quan khu vực ven biển ở một số khu vực trọng điểm phát triển du lịch biển như Hạ Long, Cát Bà, Sầm Sơn, Cửa Lò, Huế - Đà Nẵng, Khánh Hòa,…đang có hiện tượng suy thoái. Một hiện tượng không mấy tích cực đang xuất hiện: tài nguyên du lịch càng hấp dẫn bao nhiêu thì sự xuống cấp của tài nguyên đó có chiều hướng gia tăng bấy nhiêu. Vấn đề bảo tồn các tiềm năng du lịch biển đặc sắc, đặc biệt là hệ sinh thái, cảnh quan, danh thắng và di tích văn hóa chưa được thực sự quan tâm bằng những biện pháp cụ thể và có hiệu quả. Hoạt động kinh tế - xã hội, xây dựng và phát triển các khu đô thị mới, khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng đô thị, kể cả các khu du lịch đang dẫn đến nguy cơ ô nhiễm, hủy hoại và xuống cấp cảnh quan thiên nhiên, di sản văn hóa là những tài nguyên vô giá, yếu tố hình thành và là động lực phát triển chủ yếu của các đô thị, khu dân cư ven biển.

Nguyên nhân của thực trạng trên đây là xu hướng khai thác tài nguyên đất đai, môi trường nhằm đạt mục tiêu tối đa về kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh đất đai, bất động sản, phát triển khu đô thị mới, khu du lịch; thiếu sự phối kết hợp liên ngành, liên vùng trong phát triển KTXH và du lịch, đặc biệt trong quản lý đầu tư xây dựng các công trình kinh tế, xã hội, phát triển đô thị, nông thôn; tình trạng chồng chéo trong khai thác và sử dụng tài nguyên du lịch; trong quản lý phát triển khu vực ven biển, thiếu những chính sách bảo tồn, khai thác hợp lý các vùng tài nguyên có giá trị phục vụ phát triển du lịch;

Chất lượng Quy hoạch xây dựng nhìn chung vẫn còn yếu, chưa bám sát nhu cầu và biến động của thị trường giữa ngành với lãnh thổ và thiếu sự tham gia của dân cư; hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý quy hoạch xây dựng, đặc biệt là những tiêu chuẩn, quy phạm quy hoạch, đầu tư xây dựng, bảo vệ môi trường cảnh quan phù hợp với đặc thù khu vực ven biển còn thiếu và chưa được ban hành đồng bộ,…

hoa hau voi bien
Ảnh Đình Lạc

Đối với dải ven biển Huế - Đà Nẵng - Hội An, nơi tập trung nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc của vùng du lịch Bắc Trung bộ mà tiêu biểu là di sản văn hóa thế giới, hệ sinh thái môi trường, cảnh quan biển hấp dẫn, các cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng du lịch quan trọng của cả nước, việc phát triển du lịch không chỉ có ý nghĩa đối với phát triển du lịch Việt Nam và khu vực mà còn góp phần quan trọng để tạo động lực phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền Trung. Vì vậy vấn đề bảo vệ và khai thác hợp lý tài nguyên, môi trường, cảnh quan du lịch khu vực ven biển đang là một trong những nhiệm vụ bức xúc đặt ra đối với mọi ngành, mọi cấp, trước hết trong công tác quản lý quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn tại khu vực này.

Nhằm thực hiện những nhiệm vụ trên, xin được kiến nghị một số vấn đề cần quan tâm sau:

Một là nâng cao hơn nhận thức của các ngành, các cấp chính quyền, cộng đồng các nhà đầu tư và dân cư trên địa bàn về giá trị và tầm quan trọng của cảnh quan, môi trường và các di sản văn hóa trên địa bàn đối với sự phát triển bền vững của khu vực ven biển trong đó có Huế - Đà Nẵng – Hội An; đặt nhiệm vụ bảo tồn, khai thác hợp lý những tài nguyên đó thành một nội dung quan trọng của quy hoạch xây dựng, không vì lợi ích trước mắt của một dự án đầu tư mà coi nhẹ mục tiêu phát triển bền vững các đô thị, khu dân cư.

Hai là cần có kế hoạch lập, phê duyệt quy hoạch và thực hiện quản lý quy hoạch bảo tồn hệ thống tài nguyên du lịch trên địa bàn ven biển và từng địa phương: khoanh định và áp dụng các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt cá rừng bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển thế giới, các công viên quốc gia, các di tích văn hóa, cảnh quan danh thắng đã được xếp hạng, các vùng thiên nhiên cần bảo vệ và các vùng cần xây dựng đã được xác định trong quy hoạch xây dựng đô thị nông thôn.

Ba là nhanh chóng soạn thảo, bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật khung như các Luật Bảo vệ môi trường, Đất đai, Du lịch, Đầu tư, Xây dựng, Quy hoạch phát triển, trong đó có lồng ghép và thống nhất những nội dung phù hợp liên quan đến yêu cầu bảo vệ và khai thác hợp lý, bền vững tài nguyên du lịch vùng ven biển. Đối với việc quản lý phát triển các lĩnh vực kinh tế, xã hội, trong đó có lĩnh vực quy hoạch xây dựng, đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cần đặc biệt chú trọng xây dựng các tiêu chuẩn quy phạm đặc thù.

Bốn là nâng cao hơn nữa chất lượng quy hoạch xây dựng, bảo đảm nội dung chủ yếu sau: Các điều kiện tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn cần được bảo tồn với những giải pháp bố cục không gian, kiến trúc, cảnh quan, bảo vệ, đánh giá tác động môi trường và kinh tế đô thị được lồng ghép hợp lý trong nội dung các đồ án quy hoạch xây dựng. Hướng tới xây dựng phương pháp quy hoạch hợp nhất, đa ngành trong quy hoạch phát triển đô thị dưới dạng "chiến lược phát triển đô thị - CDS" như kinh nghiệm các nước tiên tiến trên thế giới, nhằm giải quyết một cách đồng bộ những nội dung trên bảo đảm đô thị phát triển bền vững.

Trong hệ thống các đồ án quy hoạch xây dựng đô thị, khu dân cư ven biển nội dung thiết kế đô thị cần được chú trọng tập trung vào các giải pháp phân khu rõ ràng, bao gồm các khu cấm xây dựng, khu vực bảo tồn cảnh quan, tài nguyên du lịch, khu cải tạo và khu phát triển, trên cơ sở đó xác định các chỉ tiêu cụ thể quản lý kiến trúc – cảnh quan, hệ số sử dụng đất, mật độ xây dựng, chiều cao, tính chất kiến trúc, cảnh quan,…; tiêu chí bảo tồn và hòa nhập với cảnh quan, chất lượng kiến trúc cần được đặt lên vị trí hàng đầu trong thiết kế kiến trúc, xây dựng các công trình, đặc biệt đối với những hạ tầng kỹ thuật đô thị (san nền thoát nước, hệ thống đường giao thông, cầu, cảng biển), công trình công nghiệp, thủy lợi, nhà ở và các công trình khác hiện đang bị xem nhẹ và là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng xuống cấp và hủy hoại kiến trúc cảnh quan tại một số đô thị du lịch ven biển như Hạ Long, Sầm Sơn, Cửa Lò…

Tại các đô thị lớn khu vực ven biển, theo quy định tại định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, phải quy hoạch xây dựng các vành đai bảo vệ tài nguyên du lịch gồm cảnh quan, danh thắng, di tích văn hóa lịch sử, hệ thống cây xanh – công viên. Quy định mật độ xây dựng hợp lý, bảo đảm tỷ lệ đất cây xanh lên 15-20m2/người đối với đô thị lớn 10-15m2/người đối với đô thị trung bình và nhỏ riêng đối với đô thị du lịch tỷ lệ cây xanh phải trên 30-40m2/người. Đối với các khu du lịch, nghỉ mát trong đô thị cần được bố trí gắn liền với các khu vực có cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn, có khí hậu tốt, có truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời, đảm bảo mối quan hệ hữu cơ với các khu ở, khu sản xuất, cơ sở hạ tầng và các đô thị khác trong vùng.

Năm là tăng cường biện pháp quản lý chặt chẽ những hoạt động du lịch và hoạt động kinh tế xã hội khác có nguy cơ gây ảnh hưởng đến hệ tài nguyên môi trường du lịch; kịp thời khắc phục sự cố, tình trạng xuống cấp các tài nguyên và môi trường du lịch. Để thực hiện được nhiệm vụ này cần xây dựng và thực hiện triệt để và đồng bộ cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng để giải quyết có hiệu quả những vấn đề về quản lý phát triển du lịch như: bảo tồn, khai thác tài nguyên, phát triển hệ thống sản phẩm du lịch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển du lịch,…Tăng cường quản lý đầu tư xây dựng các dự án đầu tư phát triển du lịch theo quy hoạch được duyệt. Xây dựng cơ chế phù hợp quản lý có hiệu quả các khu du lịch quốc gia trên địa bàn các khu vực ven biển.

Với những giá trị đặc biệt quan trọng của tài nguyên du lịch khu vực biển trong đó có cảnh quan, môi trường và các di sản văn hóa của thành phố Đà Nẵng, để đảm bảo sự phát triển bền vững, trường tồn các đô thị, khu dân cư, rất cần có những nhận thức mới, những giải pháp cụ thể và có hiệu quả như đã nêu trên trong công tác quản lý quy hoạch xây dựng.

Nguồn: Báo Đô Thị & Phát Triển (http://vntimes.com.vn/do-thi/tin-tuc/12656-bao-ve-va-khai-thac-tai-nguyen-du-lich-do-thi-ven-bien.html)